Là tỉnh nông nghiệp, với trên 76% cư dân sống trên địa bàn nông thôn, Agribank Bến Tre luôn coi việc đầu tư cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ trọng tâm góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hiện Agribank Bến Tre có nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay chiếm tỷ lệ trên 40% tổng nguồn vốn huy động và tổng dư nợ cho vay của ngành ngân hàng trên địa bàn tỉnh.
Nhiều dự án đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn
Từ năm 1991, thực hiện chủ trương, chính sách và các chương trình kinh tế - xã hội của Đảng, Chính phủ đối với nông nghiệp, nông thôn, cùng với cả hệ thống, Agribank Bến Tre đã triển khai chương trình cho vay hộ sản xuất, với đại bộ phận là hộ nông dân ở khu vực nông thôn.
Đến tháng 4/1999, thực hiện Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Agribank Bến Tre đã tích cực, chú trọng đầu tư, cho vay vốn đến mức hợp lý để nông dân và cư dân nông thôn phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển ngành nghề ở khu vực nông thôn. Đặc biệt, đến giữa tháng 4/2010, thực hiện Nghị định số 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Thông tư số 14/2010/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Quyết định số 881/QĐ-HĐQT-TDHo của Hội đồng Quản trị, Agribank Bến Tre đã tăng cường, tích cực đầu tư cho vay vốn vào hầu hết các lĩnh vực để phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Đến cuối năm 2011, Agribank Bến Tre có tổng nguồn vốn huy động trên 4.040 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn huy dộng từ dân cư chiếm tỷ trọng trên 92%, nguồn vốn huy động của nông dân và cư dân nông thôn chiếm tỷ lệ trên 85%. Tổng dư nợ cho vay đạt trên 4.720 tỷ đồng, với trên 82.000 khách hàng thường xuyên vay vốn, trong đó dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn trên 4.070 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 86,24%, với trên 78.550 hộ nông dân, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, hộ gia đình, cá nhân cư trú tại địa bàn nông thôn thường xuyên vay vốn để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ, phát triền ngành nghề và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và đời sống. Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay nông nghiệp, nông dân, nông thôn dưới 1% so tổng dư nợ cho vay. Tổng doanh thu hoạt động kinh doanh của Agribank Bến Tre đạt trên 1.030 tỷ đồng, trong đó thu từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ lệ 97%, chênh lệch thu nhập trừ chi phí (chưa lương) đạt 138% kế hoạch năm 2011, hệ số lương thực hiện đạt 1,37 lần so với năm 2010.
Để phát triển hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn được an toàn và hiệu quả như vậy, Agribank Bến Tre đã luôn coi trọng sự quan tâm, hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các địa phương, đặc biệt là cấp xã trong việc tiếp cận bà con nông dân. Đồng thời, luôn chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động mạng lưới các chi nhánh loại 3, Phòng giao dịch tại địa bàn nông thôn để tạo điều kiện thuận lợi, tốt nhất cho các hộ nông dân, hộ gia đình, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn được tiếp cận nguồn vốn tín dụng của Nhà nước để phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đó ưu tiên nguồn vốn lãi suất thấp để cho vay các hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, các doanh nghiệp hoạt động chế biến, xuất khẩu các sản phẩm từ nông nghiệp, thủy sản theo chủ trương, chỉ đạo của Ban lãnh đạo tại Trung tâm điều hành.
Chiến lược phát triển kinh doanh hướng đến “Tam nông”
Để tiếp tục phát triển ổn định và bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tại địa bàn tỉnh Bến Tre nói chung và hoạt động kinh doanh của chi nhánh như tạo việc làm, thu nhập cho cán bộ viên chức năm 2012 và các năm tiếp sau nói riêng, Ban Lãnh đạo Agribank Bến Tre luôn xác định cần phải tăng cường công tác huy động nguồn vốn tại địa phương.
Với việc nghiên cứu áp dụng các biện pháp và phương thức huy động vốn phù hợp với đặc điểm từng địa bàn và tâm lý khách hàng, Agribank Bến Tre đã chú trọng huy động nguồn vốn từ dân cư, từ tất cả khách hàng có quan hệ giao dịch với chi nhánh, đồng thời mở rộng các hoạt động để cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm thực hiện tốt chiến lược khách hàng theo hướng cung cấp cho khách hàng ngày càng nhiều các sản phẩm trọn gói. Cụ thể ở khu vực nông thôn đã tiếp tục nâng chất và phát triển mạng lưới hoạt động các chi nhánh loại 3 và Phòng Giao dịch để huy động vốn tại các khu vực dân cư tập trung, các vùng kinh tế trọng điểm, nơi dân cư có thu nhập cao hoặc thu nhập thường xuyên để thu hút nguồn vốn tiền gửi có tính ổn định cao.
Các cán bộ tín dụng thay bằng việc thụ động “ngồi chờ” khách hàng đến vay vốn, nay đã chủ động và nâng cao khả năng tiếp cận khách hàng là doanh nghiệp, các hộ sản xuất, kinh doanh làm ăn có hiệu quả, có khả năng trả nợ để cho vay vốn. Bên cạnh đối tượng vay vốn sản xuất nhỏ lẻ, chi nhánh còn chú trọng đầu tư tăng trưởng dư nợ đối với khu vực sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ, gắn việc cho vay khép kín từ sản xuất – chế biến – tiêu thụ sản phẩm và xuất khẩu để tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh duy trì và phát triển tín dụng đối với các đối tượng khách hàng truyền thống, tăng cường tìm kiếm, khai thác nhu cầu thị trường để đầu tư các đối tượng khách hàng tiềm năng nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu, chương trình kinh tế trọng điểm của địa phương, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Với các gói tín dụng đa dạng linh hoạt, chi nhánh luôn ưu tiên các vốn tín dụng trung, dài hạn với thời hạn và lãi suất thích hợp để các hộ sản xuất kinh doanh phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản trên thị trường. Chi nhánh cử các cán bộ tín dụng đồng hành cùng với các hộ sản xuất vay vốn trong việc đầu tư chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi theo hướng lấy chất lượng và hiệu quả; đầu tư vốn để hộ nông dân, các trang trại trang bị kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, chế biến bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, nâng cao trình độ thâm canh, chuyên canh, xen canh phù hợp điều kiện thổ nhưỡng nhằm làm tăng hiệu quả sử dụng đất, tăng năng suất cây trồng, nâng cao giá trị nông sản phẩm và khắc phục tình trạng “được mùa, rớt giá” do tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, hạn chế rủi ro trong sản xuất kinh doanh.
Đối với nghiệp vụ ngân hàng, hoạt động cho vay và xử lý thu hồi nợ luôn phức tạp. Vì thế nhờ dựa vào sự quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ của Chính quyền, đoàn thể các cấp trong địa bàn tỉnh, Agribank Bến Tre đã chủ động phối hợp chặt chẽ và thường xuyên với các ngành, đoàn thể để xây dựng và triển khai các chương trình, giải pháp đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay phục vụ “Tam nông” theo tinh thần Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ.
Agribank Bến Tre trong quá trình phát triển đặc biệt chú trọng nhân tố về mạng lưới hoạt động và coi đây là mặt mạnh cơ bản của Chi nhánh. Để mạng lưới hoạt động thực sự phát huy được mặt mạnh, chi nhánh đã tổ chức quản lý thật tốt về nhân sự và nghiệp vụ, chú trọng và thực hiện thường xuyên việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ giao dịch viên, nhanh chóng thay đổi về phong cách, thái độ phục vụ khách hàng, kết hợp với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để trở thành những công cụ hữu hiệu duy trì và thúc đẩy tiến trình phát triển. Việc chi nhánh ứng dụng các công nghệ mới vào hoạt động ngân hàng cũng là cách nhằm nâng cao tính đa dạng và tiện ích của các loại sản phẩm. Chi nhánh triển khai một cách an toàn và hiệu quả việc bán chéo các sản phẩm dịch vụ đi liền với hoạt động cho vay nhằm nâng cao khả năng phục vụ khách hàng, từng bước giảm áp lực quá tải cho đội ngũ cán bộ tín dụng trong cho vay và quản lý an toàn vốn tín dụng.
Thực tế đã khẳng định, đối với Agribank Bến Tre, “Nông nghiệp, Nông dân và Nông thôn” luôn là thị trường quan trọng, được xác định là nền tảng, là đối tượng chủ yếu để mở rộng thị phần tín dụng, phát triển hoạt động kinh doanh, ổn định việc làm, tăng thu nhập cho cán bộ viên chức. Tuy nhiên, đây cũng là thị trường, đối tượng sản xuất kinh doanh dễ phát sinh rủi ro đối với khách hàng và ngân hàng, vì thế cần có những chính sách hỗ trợ, ưu đãi về lãi suất, phí sử dụng vốn.
Thi Nhân - Trụ sở chính Agribank